Cơ Sở Lý Thuyết Về Nghiệp Vụ Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân

5/5 - (1 bình chọn)

Có phải bạn bạn đang tìm tài liệu về Cơ Sở Lý Thuyết Về Nghiệp Vụ Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân? Có phải bạn là sinh viên ngành tài chính ngân hàng? Có phải bạn đang trong thời gian làm khóa luận tốt nghiệp?  …và Có phải bạn đang gặp khó khăn về bài làm của mình? Vậy các bạn cùng Luận Văn Tốt tham khảo bài viết Cơ Sở Lý Thuyết Về Nghiệp Vụ Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân. Đây là tài liệu được Luận Văn Tốt soạn thảo từ những bài khóa luận bào vệ thành công và được đánh giá cao của các bạn sinh viên ưu tú những khóa trước, hy vọng bài mẫu này sẽ giúp các bạn định hướng được cho bài làm của bản thân các bạn.

Thông qua bài mẫu dưới đây Nếu các bạn vẫn không biết bắt đầu từ đâu, hay vì quá bận không có thời gian hoàn thành bài khóa luận cho mình thì các bạn liên hệ ngay với dịch vụ viết khóa luận của luanvantot.com hoặc gọi sđt/zalo : 0934573149 để được tư vấn miễn phí.

1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại

1.1. Khái niệm

Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 31/12/2001 về quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng với khách hàng đã định nghĩa rằng: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.

Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về đối tượng vay vốn tại tổ chức tín dụng là pháp nhân hoặc cá nhân, Cụ thể:

– Pháp nhân thành lập tại Việt Nam hoặc nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam

– Cá nhân có quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài.

Như vậy, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân có thể được hiểu là một hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng thương mại chuyển giao về vốn cho các cá nhân và hộ gia đình trong một thời gian nhất định nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc kinh doanh và hoàn trả gốc và lãi trong thời hạn quy định.

1.2.Đặc điểm nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại

Nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân đem lại mức lợi nhuận rất lớn cho các ngân hàng thương mại. Hoạt động này bao gồm nhiều loại hình đa dạng tuỳ theo nhu cầu và khả năng của khách hàng. Một hoạt động cho vay khách hàng cá nhân thường có 4 đặc điểm chính giống hoạt động cho vay nói chung như sau:

 –  Nghiệp vụ cho vay có tính pháp lý và được đảm bảo bằng các hợp đồng tín dụng tài sản.

–  Nghiệp vụ cho vay phải tuân thủ theo quy dịnh của pháp luật và hướng dẫn riêng của từng hệ thống ngân hàng. Thông thường quy trình này gồm 5 bước:

Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị vay.

Bước 2: Thẩm định hồ sơ.

Bước 3: Quyết định cấp tín dụng cho vay.

Bước 4: Giải ngân.

Bước 5: Giám sát thu nợ.

Bước 6: Thanh lý hợp đồng cho vay.

– Lãi suất trong hợp đồng cho vay phụ thuộc mỗi ngân hàng và thời kỳ kinh tế khác nhau.

–  Khách hàng có nghĩa vụ trả gốc, lãi và thực hiện một số nghĩa vụ khác nếu hợp đồng yêu cầu. Trường hợp khách hàng không đáp ứng được nghĩa vụ thì tài sản đảm bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay.

Ngoài những đặc điểm trên, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn mang một số đặc trưng riêng như sau:

– Cho vay khách hàng cá nhân thường được thanh toán chủ yếu bằng thu nhập. Do đó, khi xảy ra một số tình huống bất chợt như tai nạn, bệnh tật,… có thể ảnh hưởng đến thu nhập của khách hàng cá nhân dẫn đến gián đoạn hoặc chậm trễ khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ kịp thời, gây ra rủi ro cho ngân hàng thương mại.

– Khoản vay của một khách hàng cá nhân thường không quá lớn, nhưng số lượng khách hàng rất nhiều, dẫn đến chi phí thẩm định hồ sơ vay lớn. Nhất là khi ngân hàng muốn hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay thì chi phí bỏ ra trong quá trình duyệt hồ sơ càng tăng.

– Thông thường, lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân sẽ cao hơn so với lãi suất của các khoản vay các đối tượng khác. Điều này được lý giải cũng bởi chi phí thực hiện và giám sát các khoản vay khách hàng cá nhân lớn, ngân hàng cần phải đưa ra mức lãi suất cao để bù đắp lại.

Cơ Sở Lý Thuyết Về Nghiệp Vụ Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân
Cơ Sở Lý Thuyết Về Nghiệp Vụ Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân

XEM THÊM : Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hoạt Động Cho Vay Tín Chấp

1.3.Vai trò của nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng Thương mại

Cho vay khách hàng cá nhân bên cạnh những lợi ích chung như hoạt động của ngân hàng thương mại còn có những vai trò cụ thể đối với nền kinh tế nói chung và đối với khách hàng cá nhân cũng như ngân hàng nói riêng.

Đối với nền kinh tế

Cho vay giải quyết vấn đề vốn đầu tư phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Với tư cách là một trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò kết nối giữa người có khoản tiền nhàn rỗi và người cần vốn để đầu tư trong nền kinh tế. Các khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ được ngân hàng tập hợp lại và phục vụ cho các kế hoạch học tập, sinh hoạt hay sản xuất khác nhau của cá nhân đang cần vốn để thực hiện, từ đó giúp nền kinh tế tăng trưởng. Với đặc trưng số lượng lớn khách hàng, cho vay khách hàng cá nhân giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, đây cũng được xem như là đòn kích cầu hàng hóa, tăng sức mua của người tiêu dùng, khuyến khích kinh doanh nhỏ lẻ trong xã hội. Nhất là trong xu thế toàn cầu hoá ngày nay thì nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân càng trở nên cần thiết.

Đối với khách hàng

Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại có nhiều hình thức và kỳ hạn khác nhau, do đó,  khách hàng có thể căn cứ trên mục tiêu cá nhân để tiến hành lựa chọn phương án vay phù hợp. Đây là là phương án hiệu quả giúp các cá nhân thoả mãn yêu cầu tài chính khi cần, đồng thời cũng góp phần đẩy mạnh tiêu dùng của khách hàng cá nhân khi họ được tiêu dùng trước khi có khả năng thanh toán ở hiện tại. Người tiêu dùng có thể đạt được rất nhiều lợi ích trong quá trình tín dụng miễn là họ không lạm dụng để chi tiêu nằm ngoài khả năng chi trả trong tương lai.

Đối với ngân hàng

Như đã đề cập ở trên, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm phần lớn nguồn thu của ngân hàng, cụ thể thì đây chính là phần doanh thu từ lãi. Cũng chính vì thế, cho vay đóng vai trò là chức năng cơ bản không thể thiếu của một ngân hàng thương mại. Quy mô và chất lượng của hoạt động cho vay có thể khẳng định uy tín và năng lực của một ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng rơi vào khủng hoảng tài chính, ngoài nguyên nhân khách quan đến từ nền kinh tế, thì nguyên nhân chủ yếu phát sinh từ nghiệp vụ cho vay của ngân hàng. Do đó, đây cũng là hoạt động mà ngân hàng thương mại thường chú trọng quan tâm nhất.

2. Phân loại nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng Thương mại

 Hiện nay, hoạt động cho vay phát triển rất đa dạng và phong phú. Tuỳ theo tiêu chí phân loại mà hoạt động cho vay có thể chia thành các loại như sau:  

Căn cứ vào thời hạn cho vay:

  • Cho vay ngắn hạn: khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng, thường được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
  • Cho vay trung hạn: là khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Khoản vay này thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ với thời hạn thu hồi vốn nhanh, có thể hình thành nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp mới.
  • Cho vay dài hạn: là khoản vay có thời hạn từ 5 năm đến tối đa 30 năm. Khoản vay này thường được sử dụng để xây nhà hoặc các công trình có quy mô lớn như sân bay, cầu đường, các xí nghiệp mới,…

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:

  • Cho vay tiêu dùng: là khoản cho vay giúp khách hàng có thể sử dụng hàng hóa dịch vụ trước khi có khả năng chi trả. Thông thường, những khoản vay này tiềm ẩn rủi ro cao do phụ thuộc phần lớn vào thu nhập và ý thức trả nợ của khách hàng. Do đó, quy mô của các khoản vay tiêu dùng khá nhỏ. Đối tượng nhắm đến là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu  mua nhà, mua ôtô, du học, chữa bệnh…
  • Cho vay kinh doanh: là loại hình cho vay nhằm thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức.

Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay:

  • Cho vay không bảo đảm: là hình thức cho vay không cần có tài sản thế chấp cũng như sự bảo lãnh của bên thứ ba. Cho vay không đảm bảo là hình mà ngân hàng sẽ dựa vào mức độ tín nhiệm khách hàng mà không cần tài sản thế chấp. Hình thức này tiềm ẩn rủi ro cao, do đó, đối tượng của hình thức vay này thường là khách hàng có uy tín cao, khách hàng lâu năm, có tình hình tài chính ổn định,…
  • Cho vay có bảo đảm: là hình thức cho vay chủ yếu của ngân hàng thương mại. Khách hàng phải có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng thì tài sản cầm cố, thế chấp sẽ thuộc quyền quyết định của ngân hàng.

3. Các tiêu chí đánh giá nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng Thương mại

Nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:

3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh về quy mô cho vay khách hàng cá nhân

Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân

Điều 12 quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN định nghĩa rằng dư nợ cho vay dụng là số tiền nợ của khách hàng đối với ngân hàng tại một thời điểm xác định. Nói cách khác, dư nợ cho vay chính là khoản tiền mà khách hàng còn phải trả cho ngân hàng. Sự tăng trưởng trong dư nợ cho vay khách hàng, ở đây là khách hàng cá nhân có thể cho thấy sự mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng. Vì thế, đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng Thương mại.

Số lượng khách hàng cá nhân vay vốn

Số lượng khách hàng cá nhân vay vốn cho thấy quy mô tìm kiếm khách hàng và thị trường mới của ngân hàng thương mại. Số lượng khách hàng cá nhân vay vốn càng lớn thể hiện ngân hàng càng được khách hàng tin tưởng, hiệu quả hoạt động cao và các sản phẩm vay vốn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh về chất lượng cho vay khách hàng cá nhân

Hiệu suất sử dụng vốn vay khách hàng cá nhân

Chỉ tiêu này được đo bằng thương số giữa dư nợ cho vay khách hàng cá nhân với tổng vốn huy động. Nó cho biết cứ 100 đồng vốn huy động được thì ngân hàng cho khách hàng cá nhân vay bao nhiêu đồng. Nếu chỉ tiêu này lớn, một mặt phản ánh tình hình cân đối giữa nghiệp vụ huy động vốn và sử dụng vốn tốt, một mặt đánh giá khả năng huy động vốn chưa tốt, có thể ngân hàng đang thực hiện hoạt động tín dụng quá nhiều, cần mở rộng nguồn vốn huy động để đảm bảo khả năng thanh khoản. Nếu chỉ tiêu này nhỏ, một mặt phản ánh tình hình cho vay chưa tốt, một mặt phản ánh tình hình huy động vốn tốt, ngân hàng đang lúng túng trong nghiệp vụ tín dụng. Ngân hàng phải tiến hành các biện pháp làm tăng lượng cho vay hoặc giảm hoạt động huy động vốn thông qua giảm lãi suất huy động.

Tỷ lệ nợ xấu cho vay cá nhân

Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ số đo lường chất lượng cho vay rất hiệu quả. Tỷ lệ nợ xấu cho vay cá nhân là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị các khoản nợ xấu và tổng dư nợ tại một thời điểm nhất định. Tỷ lệ nợ xấu thể hiện trong 100 đồng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu của một ngân hàng càng thấp càng tốt, đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng nợ của ngân hàng, cho biết các rủi ro trong hoạt động cho vay, chỉ tiêu này cũng cho thấy khả năng thẩm định khách hàng, quy định và quy trình cho vay của ngân hàng.

Thực tế, trong kinh doanh là không thể tránh khỏi rủi ro, nên ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nhất định được coi là giới hạn an toàn. Chỉ số này càng thấp chứng tỏ chất lượng cho vay càng cao và ngược lại. Thông thường thì tỷ lệ nợ xấu tốt nhất là ở mức ≤ 5%. Theo Thông tư số 09/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thương mại phải thực hiện đầy đủ quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ không vượt quá 3%.

Ngoài ra, tỷ lệ nợ xấu cũng thể hiện khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với các khoản vay. Tỷ lệ nợ xấu quá cao có thể ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng khi xem xét gửi tiền, ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động của ngân hàng.

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro

Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN đã định nghĩa về trích lập dự phòng rủi ro như sau: “Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng”. Từ đó, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro chính là phần trăm giữa khoản dự phòng rủi ro và tổng dư nợ khách hàng cá nhân.

Đây là chỉ tiêu phản ánh đúng thực trạng chất lượng cho vay của một ngân hàng. Nếu tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro càng nhỏ, điều đó thể hiện ngân hàng hoạt động có hiệu quả, cho vay khách hàng tốt, công tác thẩm định cũng được thực hiện nghiêm túc.

Bài viết Cơ Sở Lý Thuyết Về Nghiệp Vụ Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân trên đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn. Nếu trong quá trình làm bài các bạn gặp khó khăn khi chọn đề tài, cách triển khai nội dung, tìm số liệu, tài liệu …thì hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua Zalo : 0934573149 để được hỗ trợ. Chúc các bạn thành công với bài khóa luận của mình.

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Liên hệ