Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường Mới Nhất

5/5 - (2 bình chọn)

 ??Dưới đây là nội dung về bài Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường Mới Nhất, được Luận Văn Tốt dành nhiều thời gian để soạn thảo và chia sẻ lên đây để các bạn có thể tải miễn phí về mà không mất nhiều ⏰⏰tìm kiếm cũng như không mất bất cứ khoản chi phí nào. Như các bạn đã biết thì luật bảo vệ môi trường là một môn học quan trọng mà bất cứ bạn sinh viên nào cũng phải từng học qua, môn học này ảnh hưởng rất nhiều đến các bạn, giúp các bạn hiểu rõ hơn về tình hình môi trường hiện tại, giúp các bạn biết được các giải pháp thiết thực để hạn chế ô nhiễm môi trường. Vậy nên bài viết Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường sẽ là tài liệu hữu ích cho các bạn.?

?‍♀️?‍♀️Nếu có bất kỳ khó khăn gì trong việc hoàn thiện bài làm, như không có thời gian hoàn thiện, không có tài liệu để làm bài, thì hãy liên hệ ngay với Dịch vụ viết tiểu luận thuê của Luận Văn Tốt để được hỗ trợ nhé?‍??‍?

I. Mở Đầu Tiểu Luận Luật Bảo Vệ Môi Trường Năm 2020

            Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7 ngày 23/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Việc ban hành Luật

Bảo vệ môi trường năm 2014 đã đóng góp hết sức quan trọng vào những thành công trong công tác bảo vệ môi trường thời gian qua. Theo Báo cáo cáo của Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2020), sau thời gian áp dụng Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, bao gồm: Một số quy định trong pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa phù hợp, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế; cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường; nội dung, trách nhiệm, phân công, phân cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường còn phân tán, chồng chéo và chưa hợp lý, chưa đi đôi với tăng cường năng lực, phân định rõ trách nhiệm; thiếu cơ chế phù hợp để phát huy hiệu quả sự tham gia của toàn xã hội, từng doanh nghiệp và người dân đối với công tác bảo vệ môi trường; bộ máy quản lý nhà nước về môi trường chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, chưa giải quyết hiệu quả các vấn đề liên ngành, liên vùng, xuyên quốc gia; vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn diễn biến phức tạp trong khi công tác thanh tra, kiểm tra chưa được quan tâm đúng mức, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; các thủ tục hành chính mang tính cho phép về môi trường vừa thiếu, vừa chồng chéo, trùng lắp, phân tán, thiếu sự liên thông, tích hợp dẫn đến việc cùng một dự án, chủ đầu tư phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính mang tính cho phép về môi trường của nhiều bên, nhiều cơ quan nhà nước; một số vấn đề mới phát sinh về bảo vệ môi trường chưa có hành lang pháp lý để điều chỉnh[1].

            Chính vì thế ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại kỳ họp Quốc hội  khóa XIV đã thông qua Luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 (sau đây gọi tắt là Luật bảo vệ môi trường năm 2014). So với Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã khắc phục được những bất cập tạo nền tảng pháp lý vững chắc, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế. Để tìm hiểu những tính mới của Luật này, sinh viên xin chọn chủ đề: “Một số điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020 so với Luật bảo vệ môi trường năm 2014” làm chủ đề nghiên cứu của bài thu hoạch môn pháp luật môi trường.

II. Nội Dung Tiểu Luận Luật Bảo Vệ Môi Trường Năm 2020

            Luật bảo vệ môi trường năm 2020 có nhiều điểm mới mang tính đột phá so với Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được thể hiện thông qua:

            1. Về hình thức và kĩ thuật lập pháp

            Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 gồm 16 chương, 171 điều, được bố cục lại so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (20 chương, 170 điều). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đưa các quy định về bảo vệ các thành phần môi trường lên đầu, thể hiện rõ mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ các thành phần môi trường, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, coi đây là nội dung trọng tâm, quyết định cho các chính sách bảo vệ môi trường khác. Đồng thời, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đồng bộ các công cụ quản lý môi trường theo từng giai đoạn của dự án, bắt đầu từ khâu xem xét chủ trương đầu tư, thẩm định dự án, thực hiện dự án cho đến khi dự án đi vào vận hành chính thức và kết thúc dự án, bao gồm: chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá sơ bộ tác động môi trường, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường và đăng ký môi trường[2]. Ngoài ra Luật này còn thiết kế những nội dung hợp lý nhằm đảm bảo phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản có liên quan; đồng thời hài hòa với hệ thống pháp luật quốc tế.

            Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã sửa đổi bổ sung 04 Luật có liên quan đến bảo vệ môi trường. Cụ thể tại điều 169 Luật này có quy định:

            Một là, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 08/2017/QH14 và Luật số 35/2018/QH14 như sau: “a) Bãi bỏ Điều 37 và điểm đ khoản 1 Điều 38; b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 73 như sau: “1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước. Việc cấp giấy phép môi trường trong đó có nội dung xả nước thải vào nguồn nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường[3]””.

Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường
Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường

XEM THÊM : Tiểu Luận Môn Xã Hội Học Pháp Luật

            Hai là, bãi bỏ điểm d khoản 1 Điều 44 và Điều 58 của Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 59/2020/QH14[4].

            Ba là, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2020/QH14 như sau: “a) Sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 30 như sau: “g) Phân tích, đánh giá sơ bộ tác động xã hội; đánh giá sơ bộ tác động môi trường (nếu có) theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;”; b) Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 31 như sau: “6. Phân tích, đánh giá sơ bộ tác động xã hội; đánh giá sơ bộ tác động môi trường (nếu có) theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; xác định sơ bộ hiệu quả đầu tư về kinh tế – xã hội;”[5].

            Bốn là, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung một số điểm trong Mục IX – Phí thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc Phụ lục số 01 – Danh mục Phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 09/2017/QH14 và Luật số 23/2018/QH14 như sau:

  1. a) Sửa đổi, bổ sung điểm 1.4 như sau:
1.4 Phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường * Bộ Tài chính quy định đối với hoạt động thẩm định do cơ quan trung ương thực hiện;

* Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện.

  1. b) Bổ sung điểm 1.6 và sau điểm 1.5 như sau:
1.6 Phí thẩm định cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép môi trường * Bộ Tài chính quy định đối với hoạt động thẩm định do cơ quan trung ương thực hiện;

* Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với hoạt động thẩm định do cơ quan địa phương thực hiện.

 

  1. c) Bãi bỏ điểm 5.4, điểm 6.3 và tiểu mục 9.[6]

            2. Một số điểm mới về nội dung

            2.1. Luật bảo vệ môi trường năm 2020 quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường

            Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường, vì vậy chưa đẩy mạnh, phát huy được vai trò quan trọng của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường. Trong thời gian qua, cộng đồng dân cư đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, tiêu biểu nhất là thông qua việc hình thành các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường hiệu quả. Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc thu thập, cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường; tham gia đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của doanh nghiệp[7].

            Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung “cộng đồng dân cư” vào phạm vi điều chỉnh tại điều 1 như sau: “Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường”.  Tại điều 2 đối tượng áp dụng như sau: “Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời”. Và điều 159 quy định quyền và nghĩa vụ của nhóm đối tượng này trong công tác bảo vệ môi trường: “1. Đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp có quyền yêu cầu chủ dự án đầu tư, cơ sở cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực tế về công tác bảo vệ môi trường của dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp.2. Đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với dự án đầu tư, cơ sở đó, trừ trường hợp các thông tin này thuộc bí mật nhà nước, bí mật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. 3. Đại diện cộng đồng dân cư có quyền tham gia đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp; thực hiện biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật 4. Chủ dự án đầu tư, cơ sở phải thực hiện yêu cầu của đại diện cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật. 5. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường các cấp có trách nhiệm xây dựng hệ thống trực tuyến tiếp nhận, xử lý, trả lời phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư về bảo vệ môi trường”.

            2.2. Bổ sung các quy định nhằm tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò giám sát, phản biện, đồng thời bảo đảm được quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư trong hoạt động bảo vệ môi trường

            Tại các điều 115, điều 116 và khoản 5 điều 159 của Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung quy định thiết lập hệ thống trực tuyến tiếp nhận, xử lý, trả lời phản ánh, kiến nghị, tham vấn của tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư vào bảo vệ môi trường. Từ đó cộng đồng dân cư có thể tham gia giám sát hoạt động bảo vệ môi trường thông qua công nghệ thông tin, sử dụng các thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin[8].

            Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã bảo đảm vấn đề công khai thông tin được xuyên suốt, thống nhất. Tại khoản 4 điều 4: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh, chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải” thể hiện nguyên tắc bảo vệ môi trường phải công khai, minh bạch. Tại điều 14: “đánh giá, theo dõi và công khai thông tin về chất lượng môi trường không khí; cảnh báo cho cộng đồng dân cư và triển khai biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm gây tác động đến sức khỏe cộng đồng[9]” quy định rõ trách nhiệm công khai thông tin liên quan đến chất lượng môi trường không khí. Điều 19 quy định liên quan đến chất lượng môi trường đất: “Bộ tài nguyên và môi trường ổng hợp danh mục các khu vực ô nhiễm môi trường đất; xây dựng, cập nhật vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và công bố thông tin về các khu vực ô nhiễm môi trường đất trên phạm vi cả nước[10]” và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh: “Cập nhật thông tin về khu vực ô nhiễm môi trường đất trên địa bàn vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường theo quy định[11]”. Về chất thải nguy hại, “công khai, cung cấp thông tin về loại, số lượng chất thải nguy hại thu gom, xử lý, phương pháp xử lý; thông tin về tên, địa chỉ chủ nguồn thải chất thải nguy hại được thu gom, xử lý và các thông tin về môi trường khác cần phải công khai, cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 114 của Luật bảo vệ môi trường năm 2020[12]”. Về kết quả quan trắc chất thải, dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp quản lý số liệu quan trắc chất thải và công bố công khai kết quả quan trắc chất thải theo quy định của pháp luật[13]. Tại khoản 3 điều 114 quy định, chủ trương của Nhà nước là khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, cung cấp thông tin về môi trường; trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của chủ dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, khu sản xuất, kinh doanh tập trung, cụm công nghiệp trong việc cung cấp, công khai thông tin về môi trường.

            Đối với phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường tại điều 129 Luật bảo vệ môi trường năm 2020 quy định việc công khai thông tin và sự tham gia của cộng đồng trong phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. Hình thức công khai được thực hiện thông qua cổng thông tin của cơ quan, tổ chức, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức khác, bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin; giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung và việc quản lý thông tin về môi trường; trình tự, thủ tục, thời điểm và hình thức cung cấp, công khai thông tin về môi trường.[14]

            Ngoài ra, tại điều 33 Luật bảo vệ môi trường năm 2020 còn quy định trách nhiệm của chủ dự án trong việc tham vấn cộng đồng dân cư, được quy định ngay từ khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. trong đó quy định rõ trách nhiệm thực hiện tham vấn, đối tượng tham vấn, nội dung tham vấn chủ yếu, hình thức tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường; kết quả tham vấn cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức liên quan là thông tin quan trọng để chủ dự án nghiên cứu đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động của dự án đối với môi trường và hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cấp giải phóng mặt bằng, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định trách nhiệm của chủ đầu tư dự án trong việc tham vấn ý kiến các bên có liên quan.

            2.3. Thay đổi phương thức quản lý môi trường đối với các dự án đầu tư theo các tiêu chí môi trường; kiểm soát chặt chẽ dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, thực hiện hậu kiểm đối với các dự án có công nghệ tiên tiến và thân thiện môi trường; cắt giảm thủ tục hành chính

            Tại khoản 4 điều 4 Luật bảo vệ môi trường năm 2020 quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm thiểu phát sinh, chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải”. Đây chính là điểm mới thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý môi trường thông qua thể chế hóa chính sách phát triển dựa trên quy luật tự nhiên, không hy sinh môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường không chỉ là phòng ngừa, kiểm soát chất thải. Khoản 5 điều 4, “ưu tiên xử lý ô nhiễm môi trường, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái, chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư”, các hoạt động sản xuất, phát triển phải hài hòa với tự nhiên, khuyến khích bảo vệ và phát triển tự nhiên. Đồng thời, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường nhằm thực hiện mục tiêu bảo đảm người dân Việt Nam được hưởng chất lượng môi trường ngang bằng với các nước trên thế giới và cũng, hài hòa với quy định của quốc tế để góp phần thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu (Khoản 9 Điều 5).

Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường Mới Nhất
Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường Mới Nhất

XEM THÊM : Tiểu Luận Học Phần Pháp Luật An Sinh Xã Hội

            Khoản 10 điều 5 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã tiếp cận phương pháp quản lý xuyên suốt, khoa học: “Thực hiện sàng lọc dự án đầu tư theo tiêu chí về môi trường; áp dụng công cụ quản lý môi trường phù hợp theo từng giai đoạn của chiến lược, quy hoạch, chương trình và dự án đầu tư”. Theo đó dự án đầu tư được phân thành 04 nhóm: có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, có nguy cơ, ít có nguy cơ hoặc không có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Tương ứng với từng đối tượng dự án cụ thể, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sẽ áp dụng các cơ chế quản lý phù hợp[15].

            2.4. Bổ sung quy định về nội dung sức khỏe môi trường; bổ sung nhiều giải pháp bảo vệ thành phần môi trường, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước

            Tuy không có quy định riêng về vấn đề này nhưng Luật bảo vệ môi trường năm 2020 đã lồng ghép trong toàn bộ luật bảo vệ môi trường, thông qua việc bảo vệ các thành phần môi trường, qua đó bảo vệ sức khỏe người dân, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung nội dung quản lý các chất ô nhiễm có tác động trực tiếp đến sức khỏe con người; quy định rõ trách nhiệm của Bộ Y tế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong theo dõi, kiểm soát, phòng ngừa các chất ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe con người cũng như đánh giá mối quan hệ giữa sức khỏe môi trường với sức khỏe con người, đặc biệt là mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường với các loại bệnh dịch mới.

            Điều 9 Luật bảo vệ môi trường năm 2020 quy định: “1. Kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt đối với sông, hồ liên tỉnh phải phù hợp với Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia. Kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 của Luật này phải phù hợp với Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, nội dung bảo vệ môi trường trong quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh. 2. Nội dung chính của kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt bao gồm: a) Đánh giá, dự báo xu hướng thay đổi chất lượng môi trường nước mặt; mục tiêu, chỉ tiêu của kế hoạch; xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, hành lang bảo vệ nguồn nước mặt; xác định khu vực sinh thủy; b) Thực trạng phân bố các nguồn ô nhiễm điểm và nguồn ô nhiễm diện phát sinh chất ô nhiễm môi trường nước trong vùng tác động; nguy cơ ô nhiễm nước mặt xuyên biên giới; c) Loại và tổng lượng chất ô nhiễm thải vào môi trường nước mặt; d) Đánh giá khả năng chịu tải, phân vùng xả thải, hạn ngạch xả nước thải; xác định mục tiêu và lộ trình giảm xả thải vào môi trường nước mặt không còn khả năng chịu tải; đ) Biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mặt; giải pháp hợp tác, chia sẻ thông tin và quản lý ô nhiễm nước mặt xuyên biên giới; e) Giải pháp bảo vệ, cải thiện chất lượng nước mặt;

  1. g) Tổ chức thực hiện. 3. Kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt được lập theo thời kỳ 05 năm. 4. Chính phủ quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục ban hành kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt”. Điều 13 quy định liên quan đến kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí hằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các thành phần môi trường. Điều 16 quy định về tiêu chí phân loại khu vực ô nhiễm môi trường đất: “ Khu vực ô nhiễm môi trường đất là khu vực đất có chất ô nhiễm vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. 2. Khu vực ô nhiễm môi trường đất được phân loại theo tiêu chí nguồn gây ô nhiễm, khả năng lan truyền, đối tượng chịu tác động. 3. Khu vực ô nhiễm môi trường đất được phân loại theo mức độ ô nhiễm, gồm khu vực ô nhiễm, khu vực ô nhiễm nghiêm trọng và khu vực ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng”. Điều 18 quy định nội dung về xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất: “1. Điều tra, đánh giá, phân loại khu vực ô nhiễm môi trường đất, xác định nguyên nhân, phạm vi và mức độ ô nhiễm, xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất. 2. Thực hiện biện pháp kiểm soát khu vực ô nhiễm môi trường đất gồm khoanh vùng, cảnh báo, không cho phép hoặc hạn chế hoạt động nhằm giảm thiểu tác động đến sức khỏe con người. 3. Lập, thực hiện phương án xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất; ưu tiên xử lý các khu vực có mức độ ô nhiễm nghiêm trọng, ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. 4. Quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường đất sau xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất”. Đồng thời, tại khoản 3 Điều 14 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đã quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí; đánh giá, theo dõi chất lượng môi trường không khí và công khai thông tin; cảnh báo cho cộng đồng và triển khai các biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm; tổ chức thực hiện biện pháp khẩn cấp trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Để giúp các bạn có một bài tiểu luận đạt điểm cao thì Luận Văn Tốt chia sẻ thêm cho các bạn Cách Làm Tiểu Luận Tốt Nghiệp Đại Học Tây Đô Điểm Cao để các bạn tham khảo nhé

            Không chỉ được quy định ở các nội dung về bảo vệ chất lượng môi trường không khí, đất, nước, việc bảo vệ các thành phần môi trường này còn được thể hiện tại nhiều nội dung có liên quan trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 như các nội dung về quản lý nước thải (Điều 86 và Điều 87), quản lý bụi, khí thải và các chất ô nhiễm khác (Điều 88 và Điều 89) cũng như các nội dung về quản lý chất thải rắn (sẽ góp phần giảm tác động đến môi trường đất, nước và không khí), quan trắc các thành phần môi trường,…

            2.5. Luật bảo vệ môi trường góp phần quan trọng tạo lập chính sách phát triển các mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, phục hồi và phát triển nguồn vốn tự nhiên

            Ở nước ta, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển nền kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững cũng đã được ban hành nhưng còn thiếu cơ sở pháp lý tạo nền tảng cho thúc đẩy các mô hình kinh tế này. Vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, nguồn lợi thủy sản, khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch, các nguồn năng lượng tự nhiên và các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên. Cũng giống như các dạng vốn khác (vốn vật chất, vốn tài chính và vốn con người), vốn tự nhiên cũng có thể bị suy giảm và suy thoái do quá trình sản xuất và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, với mô hình tăng trưởng trước đây, chúng ta mới chỉ tập trung tích lũy nhanh vốn vật chất, tài chính và con người mà thiếu đi sự quan tâm tới sự suy giảm, cạn kiệt của vốn tự nhiên, tạo ra những rủi ro và thách thức lớn cho thế hệ tương lai.

            Để giải quyết vấn các vấn đề này, đồng thời tạo động lực phát triển bền vững và nâng cao chất lượng tăng trưởng và sự thịnh vượng quốc gia, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung một chương (Chương XI) về các công cụ kinh tế và nguồn lực cho bảo vệ môi trường, trong đó đã bổ sung các chính sách về phát triển ngành công nghiệp môi trường (Điều 143); dịch vụ môi trường (Điều 144); sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường (Điều 145); ưu tiên thực hiện mua sắm xanh đối với dự án, nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước (Điều 146); thúc đẩy việc khai thác, sử dụng và phát triển vốn tự nhiên (Điều 147); đặc biệt là thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (Điều 142). Đồng thời, bổ sung chính sách về tín dụng xanh (Điều 149), trái phiếu xanh (Điều 150) để huy động đa dạng các nguồn lực xã hội cho bảo vệ môi trường.

            2.6. Luật bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về kiểm toán môi trường

            Tiếp thu kinh nghiệm thành công của quốc tế về kiểm toán môi trường được áp

dụng đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhằm đánh giá mức độ hiệu quả sử dụng tiết kiệm tài nguyên, quản lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung nội dung về kiểm toán môi trường. Tại điều 74 quy định: “Kiểm toán môi trường là việc xem xét, đánh giá có hệ thống, toàn diện hiệu quả quản lý môi trường, kiểm soát ô nhiễm của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. 2. Nội dung chính của kiểm toán môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bao gồm: a) Việc sử dụng năng lượng, hóa chất, nguyên liệu, phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất; b) Kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải. 3. Khuyến khích cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tự thực hiện kiểm toán môi trường. 4. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn kỹ thuật hoạt động tự kiểm toán môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ”. Việc quy định như vậy nhằm điều chỉnh hoạt động kiểm toán trong nội bộ tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ do đơn vị tự thực hiện hoặc thông qua dịch vụ kiểm toán. Mục đích của hoạt động này nhằm tăng cường năng lực quản lý môi trường của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nhận biết lỗ hổng trong quản lý môi trường và có giải pháp điều chỉnh hoạt động quản lý môi trường được hiệu quả hơn. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đã bổ sung quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan.

            2.7. Luật bảo vệ môi trường năm 2020 bổ sung quy định về thẩm quyền quản lý Nhà nước trong bảo vệ môi trường dựa trên nguyên tắc quản lý, tổng hợp thống nhất, việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện; phân cấp triệt để cho địa phương

            Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, xả nước thải vào công trình thủy lợi mà lồng ghép nội dung này trong giải phóng mặt bằng nhằm thống nhất trách nhiệm, thẩm quyền và nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước; đồng thời giảm thủ tục hành chính mạnh mẽ cho doanh nghiệp. Đồng thời tại điểm d khoản 3 điều 34 quy định: ” Trường hợp dự án đầu tư có hoạt động xả nước thải vào công trình thủy lợi thì hội đồng thẩm định phải có đại diện cơ quan nhà nước quản lý công trình thủy lợi đó; cơ quan thẩm định phải lấy ý kiến bằng văn bản và đạt được sự đồng thuận của cơ quan nhà nước quản lý công trình thủy lợi đó trước khi phê duyệt kết quả thẩm định. Cơ quan nhà nước quản lý công trình thủy lợi có trách nhiệm cử thành viên tham gia hội đồng thẩm định, có ý kiến bằng văn bản về việc phê duyệt kết quả thẩm định trong thời hạn lấy ý kiến; trường hợp hết thời hạn lấy ý kiến mà không có văn bản trả lời thì được coi là đồng thuận với nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường“”

            Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã phân cấp mạnh mẽ chođịa phương thông qua chế định giao Uỷ ban n hân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với các bộ có liên quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư của các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành (quy định hiện hành phân cấp các Bộ, ngành đều có thể thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường) đồng thời quy định các bộ có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình thực hiện nhằm bảo đảm hiệu quả. Tại khoản 3 điều 35 Luật này quy định:” Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư trên địa bàn, trừ đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án phải thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư của mình“. Như vậy, việc quy định sẽ bảo đảm quản lý thống nhất tại địa phương, thuận lợi cho công tác kiểm tra, giám sát, cấp phép sau này và phù hợp với xu hướng phân cấp cho địa phương như hệ thống pháp luật hiện hành.

            2.8. Luật bảo vệ môi trường năm 2020 cụ thể hóa quy định về ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy phát triển thị trường các – bon trong nước

            Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu tại điều 90 như sau: “1. Thích ứng với biến đổi khí hậu là các hoạt động nhằm tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống tự nhiên và xã hội, giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và tận dụng cơ hội do biến đổi khí hậu mang lại. 2. Nội dung thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm: a) Đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương, rủi ro, tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, khu vực và cộng đồng dân cư trên cơ sở kịch bản biến đổi khí hậu và dự báo phát triển kinh tế – xã hội; b) Triển khai hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và dựa vào hệ sinh thái; ứng phó với nước biển dâng và ngập lụt đô thị; c) Xây dựng, triển khai hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu…”. Tại điều 91 Luật bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính: “1. Các khí nhà kính chính là carbon dioxide (CO2), methane (CH4) và nitrous oxide (N2O). Các khí có hàm lượng thấp nhưng có tiềm năng cao gây hiệu ứng nhà kính là hydrofluorocarbons (HFCS), perfluorocarbons (PFCS), sulphur hexafluoride (SF6) và nitrogen, trifluoride (NF3). 2. Nội dung giảm nhẹ phát thải khí nhà kính bao gồm: a) Tổ chức thực hiện hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và hấp thụ khí nhà kính theo lộ trình, phương thức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện của đất nước và cam kết quốc tế; b) Kiểm kê khí nhà kính và đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp quốc gia, cấp ngành, lĩnh vực và cấp cơ sở có liên quan; c) Kiểm tra việc tuân thủ quy định về kiểm kê khí nhà kính, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, việc thực hiện cơ chế, phương thức hợp tác về giảm nhẹ phạt thải khí nhà kính; d) Xây dựng và triển khai cơ chế, phương thức hợp tác về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đ) Tổ chức và phát triển thị trường các-bon trong nước…”. Bảo vệ tầng ô dôn tại điều 92: “1. Bảo vệ tầng ô-dôn là hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm ngăn ngừa sự suy giảm tầng ô-dôn, hạn chế tác động có hại của bức xạ cực tím từ Mặt Trời. 2. Nội dung bảo vệ tầng ô-dôn bao gồm: a) Quản lý hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, tiêu thụ và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát trong khuôn khổ điều ước quốc tế về bảo vệ tầng ô-dôn mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; b) Thực hiện việc thu gom, tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát thuộc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về bảo vệ tầng ô-dôn trong thiết bị có các chất này khi không còn sử dụng; c) Phát triển và ứng dụng công nghệ, thiết bị sử dụng các chất không làm suy giảm tầng ô-dôn, chất thân thiện khí hậu…”.

            Trong đó xác định nội dung và trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành liên quan và địa phương về thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại điều 96 như sau: “1. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm sau đây: a) Là đầu mối tổ chức thực hiện cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; b) Tổ chức xây dựng, cập nhật, triển khai thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định, Báo cáo minh bạch 02 năm một lần và các báo cáo quốc gia khác về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; c) Xây dựng cơ chế, chính sách huy động và quản lý nguồn lực để thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định, những cam kết của Việt Nam đối với quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tham gia triển khai thực hiện cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; báo cáo kết quả thực hiện gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, báo cáo theo quy định” ; bổ sung quy định về lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào hệ thống chiến lược, quy hoạch, thực hiện cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn tại điều 93 như sau: ” 1. Nội dung lồng ghép ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch bao gồm: a) Kịch bản biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu được sử dụng trong việc xác định mục tiêu dài hạn của chiến lược, quy hoạch; b) Các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu được lồng ghép vào nội dung của chiến lược, quy hoạch; c) Kết quả phân tích, đánh giá giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu được sử dụng trong việc xác định chỉ tiêu kinh tế – xã hội của chiến lược, quy hoạch. 2. Chiến lược, quy hoạch quy định tại Điều 25 của Luật này phải lồng ghép nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan“. Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 lần đầu tiên quy định về tổ chức và phát triển thị trường các-bon (Điều 139) như là công cụ để thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính trong nước, góp phần thực hiện đóng góp về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính do Việt Nam cam kết khi tham gia Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Trong đó, quy định rõ đối tượng được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và có quyền trao đổi, mua bán trên thị trường các-bon trong nước; căn cứ xác định hạn ngạch phát thải khí nhà kính; trách nhiệm của các cơ quan quản lý, tổ chức liên trong trong việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính; lộ trình và thời điểm triển khai thị trường các-bon trong nước để phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Nội dung bài Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường sẽ không đầy đủ khi thiếu phần kết luận của bài, hãy theo dõi hết phần còn lại bạn nhé 

III. Kết Luận Tiểu Luận Luật Bảo Vệ Môi Trường Năm 2020

            Luật bảo vệ môi trường năm 2020 sẽ có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2022 và thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 2014. Bởi thực trạng môi trường của nước ta đang diễn biến ngày càng phức tạp, chất lượng môi trường của nhiều khu vực vào một số thời điểm vượt ngưỡng cho phép; Luật bảo vệ môi trường năm 2014 qua quá trình triển khai thực hiện đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập, chồng chéo với một số hệ thống pháp luật khác như Luật đầu tư, Luật đầu tư công, Luật xây dựng, Luật Tài nguyên nước; Luật khoáng sản; Luật quy hoạch…và một số điều khoản của luật còn thiếu tính khả thi. Hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tác động mọi mặt đến đời sống kinh tế – xã hội, tạo ra xu thế mới trong quản lí môi trường và phát triển bền vững, trong đó việc xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh đang trở thành phạm vi chủ đạo toàn cầu. Nhiều quan điểm, chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường đã được ban hành, nhiều cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia cần được thể chế hóa kịp thời[16].

            Có thê nhìn nhận rằng, bên cạnh những đóng góp tích cực nhằm đem lại diện mạo mố về kinh tế – xã hội tại địa phương, Luật bảo vệ môi trường sắp có hiệu lực thi hành trong thời gian tới sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý nhằm bảo vệ môi trường nước ta hiện nay.

[1] Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Báo cáo số 10/BCTNMT ngày 06 tháng 02 năm 2020 về tổng kết 5 năm thi hành Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Hà Nội.

[2] Ngọ Xuân Thi và Trần Xuân Thái (2021), “Một số điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020”, truy cập tại trang https://www.moitruongvadothi.vn/ ngày truy cập 21/01/2021.

[3] Khoản 1 điều 169 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[4] Khoản 2 điều 169 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[5] Khoản 3 điều 169 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[6] Khoản 4 điều 169 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[7] Ngọ Xuân Thi và Trần Xuân Thái (2021), “Một số điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020”, truy cập tại truy cập 21/01/2021

[8] Ngọ Xuân Thi và Trần Xuân Thái (2021), “Một số điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020”, truy cập tại trang truy cập 21/01/2021

[9] Điểm b khoản 3 điều 14 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[10] Điểm đ khoản 1 điều 19 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[11] Điểm d khoản 3 điều 19 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[12] Khoản 7 điều 85 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[13] Khoản 4 điều 113 Luật bảo vệ môi trường năm 2020.

[14] Ngọ Xuân Thi và Trần Xuân Thái (2021), “Một số điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020”, truy cập tại trang truy cập 21/01/2021

[15] Ngọ Xuân Thi và Trần Xuân Thái (2021), “Một số điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020”, truy cập tại trang truy cập 21/01/2021

[16] Sở Thông tin và truyền thông Tây Ninh (2021), “Sự cần thiết phải ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 2020”, truy cập tại trang https://sotttt.tayninh.gov.vn/ ngày truy cập 21/11/2021.

Trên đây là Tiểu Luận Điểm Mới Của Luật Bảo Vệ Môi Trường nếu vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho bài làm của các bạn thì hãy nhắn tin cho Luận Văn Tốt để mình có thể gửi thêm miễn phí cho các bạn nhiều tài liệu nữa để các bạn tham khảo hoặc tư vấn viết bài tiểu luận đạt điểm cao bạn nhé!!!

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

5 1 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Liên hệ