Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài

5/5 - (1 bình chọn)
Dưới đây là Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài được Luận Văn Tốt tìm kiếm, thu thập để đăng tải lên cho các bạn sinh viên có nhu cầu, nếu các bạn đang tìm nội dung về Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài thì đây là tài liệu hay cho các bạn sử dung hoặc tham khảo để triển khai bài làm của bạn. hy vọng rằng đây sẽ là tiền đề cho một bài tiểu luận về Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài thành công và đạt điểm cao
Ngoài ra, nếu các bạn có nhu cầu cần tìm dịch vụ viết thuê tiểu luận thì hãy liên hệ với  Luận Văn Tốt nhé, bên mình hỗ trợ tư vấn đề tài miễn phí, lập dàn bài chi tiết, hỗ trợ trọn gói bài làm bao mộc, dấu,…. Hãy liên hệ zalo/tele : 0934573149 để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời các bạn nhé.

1. Mở Đầu Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp

Nói đến phương thức giải quyết tranh chấp thì rất đa dạng, trọng tài với lợi thế là thủ tục tố tụng nhanh gọn, không rườm rà, tiết kiệm hơn về thời gian, chi phí cho các bên đang có những điều kiện khách quan và chủ quan để phát triển, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Đồng thời, cácc cơ quan nhà nước đã ngày càng quan tâm hơn đến giải quyết tranh chấp bằng trọng tài với việc ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 và ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, tại kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh trọng tài thương mại. Tuy nhiên, thực tế việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng nhu cầu. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chậm phát triển trong thực tiễn cuộc sống do nhiều lý do, trong đó có một phần là các thương nhân Việt Nam còn bỡ ngỡ, chưa thấy hết những lợi thế mà phương thức giải quyết tranh chấp này mang lại để thỏa thuận, lựa chọn phương thức giải quyết trọng tài khi có tranh chấp xảy ra. Mặt khác, tỷ lệ phán quyết của Trọng tài trong nước bị Tòa án hủy hoặc phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành còn khá cao, mặc dù rất nhiều phán quyết trọng tài đó không phải là do vi phạm tố tụng trọng tài hoặc do chất lượng của phán quyết trọng tài. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng thủ tục trọng tài” làm đề tài tiểu luận của mình.

2. Nội Dung Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp

1 Khái niệm tranh chấp thương mại:

Tranh chấp thương mại lần đầu tiên được quy định trong Luật Thương mại năm 1997. Tại Điều 238 Luật thương mại 1997 quy định: “tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại theo quy định của Luật TM đã loại bỏ rất nhiều tranh chấp mà xét về bản chất thì các tranh chấp đó có thể được coi là các tranh chấp thương mại, vì vậy đã dẫn đến các xung đột pháp luật trong hệ thống pháp luật, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.

Hiện nay, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động giải quyết các tranh chấp thương mại tiếp cận khái niệm này dưới góc độ liệt kê các tranh chấp (được coi là tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương mại) thuộc thẩm quyền của cơ quan tài phán quy định tại văn bản pháp luật đó. Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS 2015, các tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án bao gồm 5 nhóm sau đây:

(i) các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh Với nhau và đều có mục đích lợi nhuận,

(ii) tranh chấp về quyền, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận,

(iii) tranh chấp giữa ngu chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty;

 (iv) có tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty

 (v) các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. Luật TTTM 2010 quy định thẩm quyền của trọng tài là giải quyết các tranh chấp mà pháp luật có quy định được giải quyết bằng trọng tài khi có thỏa thuận chọn trọng tài hợp pháp của các bên tranh chấp, trong đó có tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác

  • Nói tóm lại, có thể định nghĩa “tranh chấp thương mại” là các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể thực hiện các hoạt động đó.

Giải quyết tranh chấp thương mại có thể được hiểu là: “Giải quyết tranh chấp thương mại là quá trình các chủ thể của các bên tranh chấp tiến hành lựa chọn các phương thức, biện pháp hợp pháp để “bình ổn” các mâu thuẫn, “dung hòa” quyền và lợi ích cũng như những bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ tranh chấp”

Hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại cơ bản đó là: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và tòa án.

Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng hình thức trọng tài là việc thông qua trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập, nhằm chấm dứt những bất đồng, xung đột giữa các bên bằng việc trọng tài đưa ra một phán quyết buộc các bên phải thực hiện.

* Đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng hình thức trọng tài

Thứ nhất, thẩm quyền trọng tài phát sinh khi có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.

Thứ hai, trọng tài là tổ chức phi chính phủ. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng và Trung tâm trọng tài hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, các quy định này phù hợp với quan niệm chung về “Tổ chức phi chính phủ”, các Trung tâm trọng tài hoạt động có thu phí chỉ nhằm mục đích bù đắp cho việc cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp của trọng tài, chính bản chất phi lợi nhuận này đã làm cho tính độc lập khách quan trong công tác xét xử của các Trung tâm trọng tài càng cao.

Thứ ba, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm. Tính tài phán của trọng tài thể hiện ở chỗ quyết định do trọng tài ban hành có giá trị chung thẩm, bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành. Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành, việc quy định như vậy cho phép khẳng định pháp luật Việt Nam về trọng tài không chấp nhận việc kháng cáo dù là một phần hay toàn bộ đối với phán quyết của trọng tài.

Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài
Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài

XEM THÊM : Tiểu Luận Học Phần Pháp Luật Về Trọng Tài Thương Mại

2. Khung pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trong tài

2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Trọng tài

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng hình thức trọng tài được áp dụng trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt dộng thương mại

Quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại, từ đó có thể biết được Tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài, cần phải tìm hiểu những hoạt động  nào được xem là hoạt động thương mại  hoặc những hoạt đông này có liên quan đến thương mại.

Theo quy định tại Điều 3 Luật thương mại 2005 thì hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

– Hàng hóa bao gồm:

+ Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

+ Những vật gắn liền với đất đai.

  • Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
  • Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận
  • Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại
  • Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại

Hoạt động thương mại là hoạt động do thương nhân thực hiện nhằm mục đích sinh lợi. Một hoạt động được coi là hoạt động thương mại khi có các dấu hiệu như: Hoạt động này do thương nhân thực hiện, phải trong khuôn khổ của thương nhân và hoạt động đó nhằm mục đích sinh lợi1

Theo Luật thương mại 2005 quy định, hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; đầu tư; xúc tiến thương mại (hoạt động khuyến mại; quãng cáo thương mại; triển lãm tương mại) và các hoạt động trung gian thương mại (đại diện cho thương nhân, môi giới thuong mại, ủy thác mua bán hang hóa, đại lý thương); một số hoạt đọng thương mại cụ tể khác như: (gia công thuong mại; đấu giá hang hóa, dịch vụ, đấu thầu hàng hóa; dịch vụ logistic theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc như: vận chuyển, nhận hang, lưu kho, bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng, tư vấn khách hàng hoặc các dịch vụ có liên quan đếnhàng hóa để hưởng thù lao (Điều 233 luật thương mại 2005);  quá cảnh hàng hóa được hiểu qua lãnh thổ Việt Nam và dịch vụ quá cảnh hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa và kết quả cung ứng dịch vụ; cho thuê hàng hóa; nhượng quyền thương mại).

Tại Điều 30 BLTTDS 2015 tuy không diễn giải như Điều 29 BLTTDS 2004 nhưng nội dung của hai điều luật này lại giống nhau, quy định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của tòa án Kinh tế gồm:

“1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

  1. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
  2. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
  3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
  4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

Tranh chấp phát sinh mà trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, còn các bên còn lại có thể không có hoạt động thương mại.

Theo Điều 2 khoản 2 Luật TTTM 2010 quy định chủ thể trong quan hệ tranh chấp đòi hỏi ít nhất một bên phải có hoạt động thương mại,

Đây là trường hợp tranh chấp phát sinh mà ít nhất phải có một bên có hoạt động thương mại, còn các bên khác có thể không có hoạt động thương mại,vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài.

Từ quy định tại khoảng 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại có thể đưa ra hai cách giải thích như sau:

Thứ nhất, khi chúng ta căn cứ vào yếu tố chủ thể, thì trong một vụ tranh chấp có ít nhất  một chủ thể đang hoạt động thương mại, cho dù quan hệ tranh chấp này không có gì liên quan đến hoạt động thương mại, thì vụ tranh chấp cũng thuộc thẩm quyền của Trọng tài.

Cách giải thích này hoàn toàn đi theo câu chữ của luật, đó là giữa các bên tranh chấp (bất kể quan hệ tranh chấp thuộc loại quan hệ gì, dù quan hệ dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình, uy lao động…) mà trong quan hệ tranh chấp đó ít nhất có một bên có at hoạt động thương mại thì đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. Đây thật sự là hướng giải thích rất rộng, tạo điều kiện cho Trọng tài có thẩm quyền giải quyết nhiều loại việc. Với cách giải thích này xét về lâu dài, xu hướng phát triển thẩm quyền của Trọng tài sẽ ngày càng được mở rộng là điều tất nhiên. Nhưng chỉ xem xét trong phạm vi Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam và xu hướng chung hiện nay rên thế giới thì hướng giải thích thứ nhất là chưa ổn, vì mới chỉ dựa vào yếu tố chủ thể, yếu tố hàm chứa hình thức trong quan chứ chưa đi vào bản chất của vấn đề, đó là nội dung của quan hệ. hoạt động của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp.

Thứ hai, dù quan hệ tranh chấp không xuất phát từ hoạt động thương mại của cả hai bên tranh chấp, nhưng trong quan hệ tranh chấp này có một bên có hoạt động thương mại và hành vi trong giao dịch của chủ thể này là hành vi thương mại hoặc tranh chấp này có liên quan đến hoạt động thương mại của họ thì mới thuộc thẩm quyền của Trọng tài..

Tại khoản 6 Điều 287 Bộ luật hàng hải 2015 quy định: Trên cơ sở quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này, các bên liên quan đến tai nạn đâm va được quyền tự thỏa thuận để xác định mức độ lỗi và trách nhiệm bồi thường tổn thất xảy ra đối với tai nạn đâm va đó; nếu không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án có thẩm quyền9.

Trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong quan hệ hàng hải mà các chủ thể trong quan hệ tranh chấp không có bên nào có hoạt động thương mại thì vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. Nhưng để áp dụng như trên cần phải viện dẫn khoản 6 Điều 287 Bộ luật hàng hải 2015 và khoản 3 Điều 2 Luật TTTM 2010.

Thứ ba, tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài

Tại khoản 3 Điều 2 Luật TTTM 2010, đây là quy định mà những người làm luật thường gọi là quy định quét. Nó có ý nghĩa thực tiễn khi áp dụng cho các trường hợp:

Luật trọng tài thương mại chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác hoặc sau khi Luật trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Căn cứ điểm b khoản 12 Điều 146 Văn bản hợp nhất Luật xây dựng quy định: “Các bên hợp đồng có trách nhiệm tự thương lượng giải quyết tranh chấp. Trường hợp các bên hợp đồng không tự thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án theo quy định của pháp luật”.

Tại Điều 151 Luật doanh nghiệp 2020 quy định:

“Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết hoặc biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 115 của Luật này có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:

  1. Trình tự, thủ tục triệu tập họp và ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật này và Điều lệ công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 152 của Luật này;
  2. Nội dung nghị quyết vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.”

Ngoài ra, còn các văn bản pháp luật khác cũng quy định Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp như  Điều 133 Luật Chứng khoán 2019 quy định:

“1. Trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán bị xâm phạm hoặc có tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam thì việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án Việt Nam giải quyết theo quy định của pháp luật.

  1. Chủ thể xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, thực hiện các trách nhiệm dân sự khác theo thỏa thuận, theo quy định của Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
  2. Thẩm quyền, thủ tục để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán được thực hiện theo quy định của pháp luật.”

Những quy định về thẩm quyền trọng tài trong các luật chuyên ngành nói trên có loại việc thuộc quy định tại khoản 1 Điều 2, có loại việc thuộc quy định tại khoản 2 Điều 2 và chỉ có một số việc thuộc quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật trọng tài thương mại (dù trường hợp này là rất ít). Đó là các loại việc mà tranh chấp phát sinh giữa các bên không phát sinh từ hoạt động thương mại, hoặc giữa các bên tranh chấp không có bên nào có hoạt động thương mại, không liên quan đến hoạt động thương mại, nhưng luật chuyên ngành quy định khi có tranh chấp do Trọng tài giải quyết.

Khi rơi vào các trường hợp trên nếu xem xét mà thuộc thẩm quyền của trọng tài thì cơ quan có thẩm quyền vừa phải viện dẫn quy định trong các văn bản pháp luật khác, hoặc các điều ước quốc tế… vừa viện dẫn khoản 3 Điều 2 Luật trọng tài thương mại để xác định thẩm quyền của Trọng tài.

2.2. Điều kiện để một tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài

Thứ nhất, tồn tại một thỏa thuận trọng tài. Có thể thấy rằng không phải bất kỳ tranh chấp nào phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc ít nhất một bên có hoạt động thương mại… thì Trọng tài đều có thẩm quyền giải quyết. Tại Điều 5 Luật TTTM 2010, các tranh chấp được quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại chỉ được đưa ra giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài. Vì vậy, có thể thấy các loại việc rơi vào trường hợp quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại mới chỉ là điều kiện cần để việc tranh chấp đó có thể thuộc thẩm quyền của Trọng tài, và điều kiện đủ để tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài là phải có thỏa thuận trọng tài, giữa các bên trong quan hệ tranh chấp đã lựa chọn Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp. Như vậy, có thể thấy ý chí của hai bên đương sự sẽ có vai trò quyết định thẩm quyền của Trọng tài được giải quyết quan hệ tranh chấp đó. Nói cách khác ý chí của các bên đương sự là cơ sở để tạo nên thẩm quyền của Trọng tài.

Thứ hai, điều kiện để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực. Cần lưu ý rằng, ngoài các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo quy định của Luật TTTM 2010 thì thỏa thuận trọng tài có thể bị tuyên là vô hiệu nếu thỏa thuận này không thỏa mãn các điều kiện về hình thức, chủ thể xác lập cũng như nội dung của thỏa thuận được quy định trong BLDS 2015. Vì thỏa thuận trọng tài cũng là một giao dịch dân sự được quy định theo Bộ luật này.

Điều kiện đối với cá  nhân xác lập và chủ thể của thỏa thuận trọng tài:

– Cá nhân: Người xác lập thỏa thuận trọng tài phải có năng pháp luật, năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự. Theo quy tại Khoản 3 Điều 112 Luật TTTM 2010, vi phạm quy định này sẽ dẫn đến việc thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu. Người xác lập thỏa thuận trọng tài có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của các bên tranh chấp.

– Tổ chức: Năng lực giao kết hợp đồng của một doanh nghiệp được điều chỉnh chủ yếu bởi điều lệ doanh nghiệp và luật nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (cụ thể ở Việt Nam là Luật doanh nghiệp 2020)11.

2.3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

Đối với trọng tài thương mại nói chung và Trọng tài nói riêng thì  nguyên tắc cơ bản nhất đó chính là “ sự thỏa thuận của các bên” nếu như các chủ thể không có sự thỏa thuận trọng tài thì sẽ không xảy ra quá trình tố tụng trọng tài. Đây là nguyên tắc được thừa nhận bởi Pháp luật Việt Nam cũng như luật trọng tài quốc tế.

Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên tranh chấp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Luật TTTM 2010 “Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội”. Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các bên tranh chấp, là nguyên tắc chi phối hành vi tố tụng của Trọng tài.

Thứ hai, nguyên tắc trọng tài  viên phải  độc lập, khách quan,  vô tư và tuân theo quy định của pháp  luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật TTTM 2010 thì Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc này đảm bảo để Trọng tài viên không trở thành người phụ thuộc bên tranh chấp đã lựa chọn mình và qua đó có thể tuân thủ được quy tắc đạo đức nghề nghiệp của mình.

Thứ ba, nguyên tắc các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật TTTM 2010 thì các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại Điều 12 BLTTDS 2015 về nguyên tắc tố tụng dân sự. Điều đó một lần nữa cho thấy, tố tụng trọng tài thương mại cũng dựa trên các nguyên tắc cơ bản như tố tụng dân sự trước Tòa án

Thứ tư, nguyên tắc giải quyết tranh chấp không công khai. Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật TTTM 2010 giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài sẽ được tiến hành không công khai trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Khác với các nguyên tắc đã phân tích trên đây, nguyên tắc giả quyết tranh chấp không công khai của trọng tài có sự khác biệt quan trọng so với nguyên tắc xét xử công khai trong tố tụng dân sự trước Tòa án được quy định tại Điều 15 BLTTDS 2015.

Thứ năm, nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật TTTM 2010 thì phán quyết trọng tài là chung thẩm, có nghĩa là phán quyết trọng tài không thể bị kháng cáo để xét xử lại bởi bất kỳ một Trọng tài hay Tòa án nào khác. Quy định này không chỉ bao hàm phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài” (khoản 10 Điều 3 Luật TTTM 2010) mà còn cả quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên trong quá trình tiến hành tố tụng trọng tài (Điều 512 Luật TTTM 2010).

Nội dung Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài có phù hợp với bài làm của bạn không? hãy cùng Luận Văn Tốt tham khảo hết phần còn lại nhé!

2.4 Thủ tục tố tụng trọng tài

* Đơn khởi kiện.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật TTTM 2010, tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn khỏi kiện và gửi cho một bên hoặc các bên tranh chấp (hay bị đơn). Đơn khởi kiện bao gồm các nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật TTTM 2010 gồm:

Đơn khởi kiện gồm có các nội dung sau đây:

– Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

– Tên, địa chỉ của các bên; tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;

– Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;

– Cơ sở và chứng cứ khởi kiện, nếu có;

– Các yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và giá trị vụ tranh chấp;

– Tên, địa chỉ người được nguyên đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định Trọng tài viên.

Kèm theo đơn khởi kiện, phải có thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu có liên quan.

*  Hình thức đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đơn khởi kiện

 Do Luật trọng tài thương mại không quy định, nên đơn khởi kiện thể hiện dưới hình thức nào sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên. Thông thường đơn khởi kiện được thể hiện dưới hình thức văn bản.

 Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện phải gửi các tài liệu sau:

– Văn bản chứa đựng thỏa thuận trọng tài.

– Bản chính hoặc bản sao các tài liệu có liên quan đến nội dung tranh chấp, yêu cầu của nguyên đơn trong đơn khởi kiện..

Một trong những yếu tố giúp cho việc giải quyết tranh chấp được nhanh, tiết kiệm thời gian thì nguyên đơn phải chuẩn bị và gửi càng đầy đủ, càng sớm các tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp là rất quan trọng.

* Địa điểm gửi đơn khởi kiện

Đối với trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tìa vụ việc thì nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện cho bị đơn.

* Thông báo đơn khởi kiện

Đối với tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài, khi nguyên đơn khởi kiện đã nhanh chóng gửi ngay đơn khởi kiện cho bị đơn biết. Nên không cần thực hiện thủ tục thông báo cho bị đơn theo quy định tại Điều 32 Luật TTTM.

* Bản tự bảo vệ và thời hạn gửi bản tự bảo vệ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật TTTM, bản tự bảo vệ phải có các nội dung chính sau đây:

– Ngày, tháng, năm làm bản tự bảo vệ

– Tên và địa chỉ của bị đơn

– Cơ sở và chứng cứ tự bảo vệ nếu có;

– Tên và địa chỉ của người được bị đơn lựa chọn trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định trọng tài viên.

Đối với vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài (khoản 3 Điều 35 Luật TTTM) các bên có thể thỏa thuận thời hạn bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ và tài liệu cho nguyên đơn và Trọng tài viên mà nguyên đơn đã lựa chọn. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên

* Đơn kiện lại và thời hạn gửi đơn kiện lại

Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài và Trọng tài đang thụ lý đơn kiện của nguyên đơn, thì bị đơn gửi đơn  kiện lại cho HĐTT vụ việc và nguyên đơn.

Để tránh việc lợi dụng, gây khó khăn cho quá trình giải quyết tranh chấp, đồng thời bảo đảm công bằng về quyền tố tụng của mỗi bên, tại khoản 2 Điều 36 Luật TTTM quy định đơn khởi kiện phải được nộp cùng thời điểm bị đơn nộp bản tự bảo vệ. Điều này có thể kết luận thời hạn nộp đơn kiện lại cũng là 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn.

2.5 Thời điểm bắt đầu và chấm dứt tố tụng trọng tài

* Thời điểm bắt đầu tụng trọng tài

Nếu các bên đương sự không muốn chọn thời điểm bắt đầu quá trình tố tụng như quy định tại Điều 31 Luật TTTM thì các bên có quyền thỏa thuận thời điểm bắt đầu quá trình tố tụng  trọng tài sớm hơn, hoặc muộn hơn thời điểm được quy định trong Luật thương mại.

Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác thì thời điểm tố tụng trọng tài đối với hình thức Trọng tài bắt đầu từ thời điểm bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn (khoản 2 Điều 31 Luật TTTM 2010). kể từ thời điểm này Tòa án đã có thẩm quyền bắt đầu các hoạt động hỗ trợ, một hoặc các bên tranh chấp có quyền làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi nộp đơn khởi kiện (khi thời điểm tố tụng trọng tài đã bắt đầu) mà không phân biệt Hội đồng trọng tài đã được thành lập hay chưa hoặc Hội đồng trọng tài đã giải quyết tranh chấp hay chưa (khoản 1 Điều 53 Luật TTTM 2010).

* Thời điểm kết túc tố tụng

Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật TTTM 2010 thì:

“Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”.

Tuy nhiên, có một nét rất đặc thù của Luật trọng tài thương mại là dù đã ra phán quyết trọng tài và chấm dứt tố tụng trọng tài, nhưng theo quy định tại khoản 4 Điều 63, khoản 7 Điều 71 Luật TTTM 2010, Hội đồng trọng tài vẫn có quyền phán quyết bổ sung hoặc khắc phục sai sót tố tụng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy phán quyết trọng tài.

Đây là một quy định rất có ý nghĩa thực tiễn góp phần khắc phục thiếu sót và ổn định phán quyết trọng tài. Nhưng để các quy định đó giàu sức sống rất cần sự thấu hiểu và hỗ trợ của Tòa án mà trực tiếp là các Hội đồng xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

2.7 Phán quyết, trình tự  thủ tục thi hành phán trọng tài

Căn cứ theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật TTTM 2010 thì: “Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài. Một quyết định của Hội đồng trọng tài chỉ được coi là phán quyết trọng tài khi nó chứa đựng hai yếu tố:

Hoàn thành một bài tiểu luận hay và thu hút người đọc là điều không dễ, nhưng để làm được việc đó thì nhiều bạn đã sử dụng dịch vụ Dịch vụ viết thuê tiểu luận của Luận Văn Văn Tốt. Nếu bạn cũng đang có nhu cầu thì hãy liên hệ với Luận Văn Tốt bạn nhé

+ Một là, quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp;

+ Hai là, quyết định này dẫn đến chấm dứt tố tụng trọng tài

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 2014/NQ-HĐTP thì có hai loại quyết định được xác định là phán quyết trọng tài:

* Quyết định công nhận thỏa thuận của các bên của Hội đồng trọng tài quy định tại Điều Luật trọng tài thương mại.

Quyết định này được hình thành từ việc Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải giữa các bên tranh chấp để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Đây là một hình thức giải quyết tranh chấp chứa đựng nhiều mặt tích cực, nó giúp hóa giải mâu thuẫn, xóa bỏ bất đồng, tăng cường tinh thần đoàn kết giữa hai bên đương sự.

* Loại quyết định thứ hai: Quyết định trọng tài được ban hành, được ra đời trên cơ sở hoạt động xét xử của Hội đồng trọng tài sau khi đã giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp.

Đây chính là loại phán quyết trọng tài được quy định tại Điều 60 Luật TTTM 2010, sẽ là đối tượng đương sự có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy phán quyết. Theo quy định tại Điều 61 Luật trọng tài thương mại thì phán quyết phải có các nội dung là:

– Ngày, tháng, năm và địa điểm ra phán quyết;

– Tên, địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn;

– Họ, tên, địa chỉ của Trọng tài viên;

– Tóm tắt đơn khởi kiện và các vấn đề tranh chấp. .

– Căn cứ để ra phán quyết, trừ khi các bên có thỏa thuận không cần nêu căn cứ trong phán quyết;

– Kết quả giải quyết tranh chấp;

– Thời hạn thi hành phán quyết;

Phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng. Phán quyết này là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành. Các bên có quyền yêu cầu Hội đồng Trọng tài cấp bản sao phán quyết trọng tài. Đối với hoạt động tài phán của Trọng tài, khi biểu không đạt được đa số thì theo quy định tại khoản 2 Điều 60 Luật trọng tài thương mại “phán quyết trọng tài được lập theo ý là của Chủ tịch Hội đồng trọng tài”.

* Trình tự  thủ tục thi hành phán trọng tài

Trình tự, thủ tục đăng ký phán quyết Trọng tài được quy định tại khoản 2, 3 Điều 62 Luật TTTM 2010

Thời hạn đăng ký phán quyết Trọng tài là 01 năm. kể từ ngày ban hành phán quyết. Điều này có nghĩa là sau thời hạn này, nếu một hoặc các bên yêu cầu đăng ký thì Tòa án phải từ chổi đăng ký. Như vậy, nếu phán quyết trọng tài không được yêu cầu đăng ký trong thời hạn này thì sau đó bên được thi hành không thể yêu cầu cưỡng chế thi hành phán quyết bởi cơ quan thi hành án dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật TTTM 2010 thì các bên có thể thỏa thuận về Tòa án có thẩm quyền đăng ký phán quyết của Trọng tài, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 7 Luật này, trường hợp các bên không có thỏa thuận thì Tòa án có thẩm quyền đăng ký phán quyết Trọng tài là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài.

Trường hợp nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài quy định tại điểm g khoản 2 Điều 7 Luật TTTM 2010 được tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của bị đơn tại Việt Nam.

Trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn (điểm c khoản 4 Điều 5 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP). Như vậy, trong mọi trường hợp sẽ có Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đăng ký phán quyết của Trọng tài.

Trên đây là nội dung Tiểu Luận Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Thủ Tục Trọng Tài của Luận Văn Tốt với mục tiêu muốn gửi đến các bạn các bài hay và chỉnh chu nhất, nếu bạn nào đang có nhu cầu tìm bài liên quan thì đây là một bài mẫu bổ ích, phù hợp nhất dành cho các bạn. . Nếu các bạn có khó khăn, chưa thể hoàn thành bài tiểu luận của mình, thì hãy liên hệ với Dịch vụ viết thuê tiểu luận của Luận Văn Tốt bạn nhé.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

5 1 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo