Tiểu Luận Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Có Yếu Tố Nước Ngoài

5/5 - (2 bình chọn)

Dưới đây là bài Tiểu Luận Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Có Yếu Tố Nước Ngoài được không ít bạn sinh viên tìm kiếm nhiều trên internet, vì đề tài này mang tính thực tiển xã hội. Bài viết được Luận Văn Tốt soạn thảo từ các bài tiểu luận đã đạt điểm cao của các bạn sinh viên ở những khóa trước, chia sẻ lên đây để các bạn khóa sau có tài liệu tham khảo mà không mất nhiều thời gian tìm kiếm, hy vọng đây là nội dung hữu dụng khi làm tiểu luận về Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Có Yếu Tố Nước Ngoài đạt kết quả cao bạn nhé.

Chưa dừng lại ở việc cung cấp những thông tin và tài liệu hữu ích cho các bạn mà Luận Văn Tốt còn mang đến cho các bạn dịch vụ viết tiểu luận trọn gói, Nếu các bạn có khó khăn về bài làm của mình thì hãy nhắn tin hoặc gọi ngay Zalo/tele : 0934573149 để được báo giá.

  A. Mở đầu tiểu luận

            Để kinh doanh đạt hiệu quả cao, ngoài việc cần phải trang bị những kiến thức, giải pháp kinh doanh hữu hiệu, các doanh nghiệp Việt Nam còn cần phải có nền tảng kiến thức pháp luật, kỹ năng cũng như “nghệ thuật” giải quyết các tranh chấp hợp đồng, đặc biệt là là các tranh chấp hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài, vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro về pháp lý. Pháp luật Việt Nam quy định các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh nói chung và đối với loại hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Các bên được tự do thỏa thuận hình thức này hay hình thức khác để giải quyết khi xảy ra tranh chấp theo quy định của pháp luật. Việc nghiên cứu những vấn đề này trong thực tiễn là vô cùng bổ ích đối với sinh viên khi học môn tư pháp quốc tế. Xuất phát từ lý do đó sinh viên chọn đề tài: “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài” làm tiểu luận kết thúc môn học của mình.

 B. Nội dung tiểu Luận Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

  1. Tóm tắt nội dung vụ việc có yếu tố nước ngoài

            – Tên bản án: “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

            – Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại

            – Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

            Nguyên đơn: “ Công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G – Trung Quốc; Trụ sở: Huguang, Ganzhou, Jiangxi – Trung Quốc; Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị N – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển N – Văn bản ủy quyền ngày 20/10/2014[1]”.

            + “Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển N; Địa chỉ: Tầng 2, số 17 Ngô Sỹ Liên, phường Văn Miếu, Đ, H. Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị N – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển N- Có mặt. Địa chỉ thường trú của bà Nhung: Số 3, Hẻm 19, Ngách 24 Linh Quang, phường Văn Chương, quận Đ, H. Địa chỉ liên lạc: Nhà khách TTC – Công ty Cổ phần điện G, số 100A Phạm Văn Đồng, thành phố P, tỉnh G”;

            Bị đơn: “Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ; Địa chỉ: Số 138 Nguyễn Ái Quốc, phường Trảng Dài, thành phố B, tỉnh Đ. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Bá T – Trưởng phòng Hành chính nhân sự -Văn bản ủy quyền ngày 18/11/2019 – Có mặt[2]”.

            + Người kháng cáo: “nguyên đơn Công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G – Trung Quốc; Bị đơn Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ[3]”;

            Nội dung tranh chấp: “Công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G-Trung Quốc – viết tắt Công ty G và Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển N – Viết tắt là Công ty N ký hợp đồng số 06- 08/HĐKT-TB-TD ngày 10/6/2008 với Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ – Viết tắt là Công ty DC về việc cung cấp gói thầu sản xuất, chế tạo, cung cấp thiết bị trọn bộ và các dịch vụ kỹ thuật cho Nhà máy thủy điện LaLa với tổng giá trị hợp đồng Công ty DC – bên mua phải trả cho Công ty G 565.790 USD và Công ty N 204.239 USD[4]”.

Nội dung Tiểu Luận Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Có Yếu Tố Nước Ngoài sẽ hỗ trợ các bạn rất nhiều trong quá trình làm bài tiểu luận về các đề tài liên quan, mời các bạn theo dõi hết phần còn lại nhé

            Thực hiện hợp đồng, “liên danh G-N đã giao hàng cho Công ty DC đợt đầu tiên vào tháng 6/2009 và kết thúc vào tháng 10/2012 – có chứng từ đầy đủ theo quy định tại Điều 10 các điều kiện riêng của hợp đồng . Nhà máy thủy điện LaLa đã vận hành thành công vào tháng 10/2012, chạy thử nghiệm 72 giờ và chính thức phát điện thương mại đến nay không có sự cố xảy ra[5]”.

            Từ ngày 01/11/2012 đến ngày 17/4/2013, “liên danh G-N nhiều lần gửi công văn, hồ sơ yêu cầu Công ty DC thực hiện đúng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng là gia hạn L/C và bảo lãnh thanh toán đã hết hạn cho bên bán nhưng không được hợp tác của bên mua. Liên danh G-N tích cực đối chiếu nợ giữa các bên qua Email, công văn và gửi hồ sơ tới Công ty DC nhưng DC luôn né tránh và không thanh toán nợ[6]”.

            “Công ty G khởi kiện yêu cầu Công ty DC phải thanh toán cho Công ty G tiền gốc 56.579 USD x 23.157 đồng/USD = 1.310.199.903 đồng; Lãi từ ngày 01/11/2012 đến ngày xử sơ thẩm 28/11/2019 là 1.437.362.086 đồng; Công ty N khởi kiện yêu cầu Công ty DC phải thanh toán cho Công ty N tiền gốc 10.473,9 USD x 23.157 đồng/USD = 242.544.102 đồng; Lãi từ ngày 01/11/2012 đến ngày xử sơ thẩm 28/11/2019 là 266.084.353 đồng. Công ty G và Công ty N rút yêu cầu khởi kiện Công ty DC bồi thường 10% giá trị vi phạm hợp đồng[7]”.

            Như vậy, có thể thấy đây là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài. Căn cứ tại điều 1 Luật thương mại năm 2005: “Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.  Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thoả thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này[8]”.

  2. Xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

            Khi xảy ra tranh chấp “giữa công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G – Trung Quốc; Trụ sở: Huguang, Ganzhou, Jiangxi , Trung Quốc  và công Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển N; Địa chỉ: Tầng 2, số 17 Ngô Sỹ Liên, phường Văn Miếu, Đ, H với công ty Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ – DC; Địa chỉ: Số 138 Nguyễn Ái Quốc, phường Trảng Dài, thành phố B, tỉnh Đ[9]” thì pháp luật điều chỉnh là pháp luật Việt Nam.

            Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 2 điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài[10]”.

            Như vậy chúng ta có thể xác định đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bởi có ít nhân một bên tham gia là công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G – Trung Quốc; Trụ sở: Huguang, Ganzhou, Jiangxi , Trung Quốc  là công ty nước ngoài.

Tiểu Luận Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Có Yếu Tố Nước Ngoài
Tiểu Luận Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Có Yếu Tố Nước Ngoài

XEM THÊM : Tiểu Luận Môn Thông Lệ Trong Thương Mại Quốc Tế

 3. Vấn đề pháp lý đối với vụ việc và nhận xét đánh giá

             Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định: “Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G – Trung Quốc và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ; Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2019/KDTM-ST ngày 28/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đ[11]” vì căn cứ vào những nhận định: “Tại Điểm 15.2.3 Khoản 15.2 Điều 15 mục b phần B (Các điều kiện riêng) của Hợp đồng số 06-08/HĐKT-TB-TD ngày 10/6/2008 (Bút lục 39) quy định:“5% giá trị còn lại của Hợp đồng sẽ được thanh toán sau khi Bên bán nộp bảo lãnh Ngân hàng về số tiền bảo hành công trình với giá trị tính bằng 5% giá trị Hợp đồng hoặc Bên mua cung cấp cho bên Bán chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ bảo hành[12]”.Công ty G – Trung Quốc đã không cung cấp bảo lãnh Ngân hàng và cũng không được Công ty DC cung cấp chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ bảo hành như đã thỏa thuận trong Hợp đồng như đã nêu trên. Do đó, Bản án sơ thẩm không chấp nhận khởi kiện của Công ty G – Trung Quốc yêu cầu Công ty DC trả tiền lãi là có căn cứ. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của Công ty G – Trung Quốc theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp[13]”.

            Tại Điểm 15.1.3 Khoản 15.1 Điều 15 mục b phần B (Các điều kiện riêng) của Hợp đồng số 06-08/HĐKT-TB-TD ngày 10/6/2008 (Bút lục 38) quy định:“5% giá trị còn lại của Hợp đồng sẽ được thanh toán sau khi Bên bán nộp bảo lãnh Ngân hàng về số tiền bảo hành công trình với giá trị tính bằng 5% giá trị Hợp đồng[14]”. Ngày 31/10/2012, “Công ty N đã nộp bảo lãnh bảo hành cho Công ty DC nên đã phát sinh nghĩa vụ thanh toán của Công ty DC theo thỏa thuận nêu trên. Vì vậy Bản án sơ thẩm đã buộc Công ty DC trả tiền lãi cho Công ty N kể từ ngày 01/11/2012 đến ngày xét xử sơ thẩm – 07 năm 28 ngày  theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng thương mại với số tiền lãi 266.080.581 đồng là đúng theo quy định của Hợp đồng giữa các bên đã ký, đúng quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 và phù hợp Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao[15]”. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của Công ty D theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

            Điều 306 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán. Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác[16]”.

            Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ – HDDTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 quy định: “Xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005. Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 ngân hàng thương mại -Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,…- có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán thời điểm xét xử sơ thẩm để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác[17]”.

            “Buộc Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ thanh toán cho Công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G – Trung Quốc 1.310.199.903 đồng[18]” (Một tỷ ba trăm mười triệu một trăm chín mươi chín ngàn chín trăm lẽ ba đồng).

            Buộc “Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ thanh toán cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển N 508.624.683 đồng. Không chấp nhận khởi kiện của Công ty Chế tạo thiết bị phát điện đồng bộ G – Trung Quốc yêu cầu Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Vật liệu Đ thanh toán tiền lãi với số tiền 1.437.362.086 đồng[19]”.

            Như vậy, Tòa án xét xử đã áp dụng luật của Việt Nam là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Luật thương mại năm 2005; Án lệ 09/2016 về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại; Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành là phù hợp.

 4. Quan điểm của sinh viên về vấn đề trên

Để trang bị cho các bạn phong phú về tài liệu tham khảo thì Luận Vân Tốt chia sẻ thêm cho các bạn Tiểu Luận Về Vụ Việc Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài

   Tại Việt Nam, quyền thỏa thuận chọn luật của các bên trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Cụ thể, Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng[20]”. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực thương mại, khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 2005 “cho phép các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh hợp đồng của mình[21]”. Có thể thấy, hiện tại Bộ luật Dân sự 2015 “xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng trong trường hợp các bên không chọn luật, dựa vào nguyên tắc nơi có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng[22]”. Tại khoản 2, Điều 683 “đã đưa ra dấu hiệu xác định mối quan hệ gắn bó nhất bằng cách liệt kê các nguyên tắc phù hợp với từng loại hợp đồng cụ thể như: hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ. Đây là các nguyên tắc tương đồng với cách quy định trong pháp luật các nước trên thế giới[23]”. Cách quy định liệt kê như trên có ưu điểm là rõ ràng, dễ áp dụng cho các hợp đồng chuyên biệt, nhưng có nhược điểm là không đầy đủ và khó áp dụng cho các hợp đồng phức tạp có bản chất hỗn hợp. Ngoài ra, việc liệt kê như vậy chắc chắn sẽ không bao trùm được hết các quan hệ hợp đồng trên thực tế, như hợp đồng phân phối chẳng hạn.

Bên cạnh những điểm nổi bật mà Bộ luật dân sự năm 2015 quy định liên quan đến cách xác định pháp luật đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài vẫn còn những quy định chưa được triển khai cụ thể, dẫn đến áp dụng không thống nhất như sau:

– “Thiếu quy định về điều kiện áp dụng pháp luật nước ngoài cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong trường hợp các bên có thỏa thuận chọn luật”[24].

– “Chưa xây dựng các quy định chi tiết hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về cách xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài trong trường hợp các bên không có thoả thuận chọn luật áp dụng”[25].

Việc nghiên cứu và bình luận bản án trên giúp sinh viên nâng cao những kiến thức và kĩ năng nghiên cứu, phân tích một vấn đề liên quan đến tư pháp quốc tế cũng như những vấn đề có liên quan.

[1] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1.

[2] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1.

[3] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1.

[4] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.2.

[5] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.2.

[6] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.2.

[6] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.2.

[6] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.2. 

[8] Điều 1 Luật thương mại 2005.

[9] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.2. 

[10] Khoản 2 điều 663 Luật dân sự năm 2005.

[11] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.3.

[12] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.4.

[13] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.4.

[14] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.4.

[15] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.4.

[16] Điều 306 Luật thương mại năm 2005.

[17] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.4.

[18] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.4.

[19] Tòa bán nhân dân cấp cao (2020), “Bản án số 38/2020/KDTM – PT ngày 21 tháng 07 năm 2020 về tranh cấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.5.

[20] Khoản 1 điều 638 Bộ luật dân sự năm 2015.

[21] Khoản 2 điều 5 Luật thương mại năm 2005.

[22] Phùng Hồng Thanh (2019), “Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh Châu Âu – So sánh với pháp luật Việt Nam”, Công thương Industry and Trade magazine, truy cập tại đường truy cập 04/01/2022.

[23] Phùng Hồng Thanh (2019), “Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh Châu Âu – So sánh với pháp luật Việt Nam”, Công thương Industry and Trade magazine, truy cập tại đường truy cập 04/01/2022.

[24]. Phùng Hồng Thanh (2019), “Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh Châu Âu – So sánh với pháp luật Việt Nam”, Công thương Industry and Trade magazine, truy cập tại đường link truy cập 04/01/2022.

[25] Phùng Hồng Thanh (2019), “Cách xác định luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo quy định của Liên minh Châu Âu – So sánh với pháp luật Việt Nam”, Công thương Industry and Trade magazine, truy cập tại đường link truy cập 04/01/2022.

Qua nội dung bài Tiểu Luận Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Có Yếu Tố Nước Ngoài chắc hẳn các bạn đã định hướng được bài tiểu luận của bạn rồi đúng không? Nếu có bất kì khó khăn hay thăc mắc cần được giải đáp thì đừng ngần ngại hãy gọi ngay cho Luận Văn Tốt  Zalo/tele : 0934573149 để được tư vấn miễn phí.

DOWNLOAD MIỄN PHÍ

5 1 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo